Công việc và những đức tính cao đẹp của bà Tú trong Thương vợ - Trần Tế Xương

Trung bình: 5
Đánh giá: 3
Bạn đánh giá: Chưa

          Trần Tế Xương là một nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm nói về lòng thương. Cũng như Nguyễn Khuyến, Tú Xương có công phát triển tiếng Việt văn học, Việt hóa thể thơ Đường luật thêm một bước dài, góp phần đổi mới nghệ thuật dân tộc. Ông để lại hơn 100 bài thơ đều bằng tiếng Việt. Thương vợ là tác phẩm giới thiệu hoàn cảnh kiếm sống lam lũ, vất vả của bà Tú. Thời gian làm việc quanh năm, ngày nào cũng vậy, liên tục từ đầu năm đến cuối năm, không nghỉ một ngày nào; không gian là mom sông, một nơi kiếm sống lam lũ, có khi còn nguy hiểm, nhất là đối với người phụ nữ. Đồng thời qua công việc kiếm ăn vất vả đó còn làm hiện rõ lên những đức tính cao đẹp của bà Tú.


          Trần Tế Xương lúc nhỏ tên Trần Duy Uyên, tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là phố Hàng Nâu, thành phố Nam Định. Ông nổi tiếng là người thông minh, con đường hoạn lộ của nhà thơ bắt đầu từ ăm 17 tuổi, nhưng thi mãi tám lần cũng chỉ đỗ tú tài. Suốt đời ngoài việc đi thi, làm thơ phú và nay đây mai đó, nhà thơ hầu như không làm gì, kể cả dạy học, một nghề thường thấy của các nho sĩ ngày xưa. Tú Xương mất sớm, ông chưa đi trọn con đường sáng tác của mình. Nhưng những tác phẩm cảu ông để lại có tác dụng như một bảng cáo trạng đanh thép lên án xã hội nửa thực dân nửa phong kiến trong giai đoạn nửa cuối thể kỉ XIX. Tú Xương xứng dáng là nhà thơ lớn của dân tộc, xứng đáng được Yên Đổ (Nguyễn Khuyến) xếp vào loại thi hào bất tử. Ông có nhiều bài thơ về vợ với những câu đầy thương mến, hóm hỉnh. Trong một loạt bài thơ Tú Xương viết về vợ, Thương vợ được coi là tác phẩm tiêu biểu hơn cả. Bài thơ thể hiện cả hai mặt trong thơ Tú Xương, vừa ân tình vừa hóm hỉnh. Thương vợ được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng ngôn ngữ rất sinh động tự nhiên, thể hiện dậm sắc thái dân gian, mang nét riêng độc đáo của thơ Tú Xương. 

Thương vợ - Trần Tế xương

     Sách vở viết về Tú xương còn còn ghi lại chuyện bà Tú đã có thời gian làm nghề buôn gạo, ''bà Tú buôn gạo hàng đội hàng thúng chứ không có vốn buôn hàng thuyền (Xuân Diệu) ''. Công việc của bà Tú là công việc ''Quanh năm buôn bán ở nom sông''. Thời gian: '' quanh năm'' là thời gian tuần hoàn khép kín, ngày nối ngày, tháng tiếp tháng người mẹ người vợ ấy gắn mình với công việc buôn bán để nuôi chồng nuôi con. Địa điểm '' mom sông'' gập ghềnh hiểm nguy đầy bất trắc. Một địa hình mà ba bề bốn bên đều là nước, nơi đầu sóng ngọn gió. Chênh vênh, cheo leo thế mà bà Tú phải gắn bó với nó quanh năm đoạn tháng mới thấy bà vất vả, nhẫn nại làm sao. Đảo ngữ nhấn mạnh vào những chữ '' lặn lội, eo sèo'' - những từ láy vừa gợi hình vừa gợi thanh tô đậm sự vất vả âm thầm lẻ loi. Bà Tú vừa lụi hụi một thân một mình vừa phải chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán. Hình ảnh thân cò độc đáo, sáng tạo của sự lam lũ, vất vả, chịu thương, có phần xót xa, tội nghiệp, thể hiện sự cảm thông sẻ chia với nỗi đau thân phận. Thân cò không chỉ rợn ngợp, bé nhỏ trước bờ sông heo hút hay trong đêm tối mênh mông, trong không gian nước non rộng lớn mà heo hút trước cả thời gian. Mượn hình ảnh con cò trong ca dao tác giả cụ thể hóa cái vất vả cực nhọc của bà Tú, đồng thời nhấn mạnh sự tần tảo. Lời thơ của Tú Xương gợi về hình ảnh con cò gắn với cảnh ngộ, số phận người phụ nữ trong ca dao xưa đó là :

''Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non''

Hay:

'' Cái cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mền lộn cổ xuống ao''

Và:

''Nước non lận đận một mình

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay

Ai làm cho bể kia đầy

Cho ao kia cạn cho gầy cò non.''

     Tú Xương đã vận dụng ca dao để tạo nên những câu thơ mang dấu ấn cá nhân. Nếu thân cò gợi sự lẻ loi, lụi hụi một thân một mình thì '' đò đông'' lại gợi những lời phàn nàn, mè nheo, cáu gắt, những sự chen lấn, xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc. Tú Xương đã tái hiện những bươn bả, nhọc nhằn, tảo tần, vất vả, gian truân của bà Tú, gợi nỗi đau thân phận. Đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương: tấm lòng xót thương, ái ngại, cảm thông.

     Bà Tú hi sinh vì chồng vì con ''nuôi đủ năm con với một chồng''. Cách đếm đặc biệt "nuôi đủ", vất vả, vẫn gánh xong gợi hình ảnh cái gánh nặng gia đình đè lên vai bà Tú. Câu thơ diễn tả cái nghịch lí ''sự nuôi'' của bà Tú...đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con. Bà Tú vẫn cam chịu nhẫn nhục:

''Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.''

     Số đếm ''một - hai - năm - mười'' như chất chồng nhấn mạnh vào nỗi khổ. Thành ngữ chéo ''năm nắng mười mưa'' vừa nói lên sự vất vả gian truân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú nhưng bà vẫn ''âu đành phận, dám quản công''...cam chịu, hi sinh nhẫn nhục âm thầm. Nuôi con là chuyện bình thường muôn đời nay của người phụ nữ Việt Nam nhưng ở đây người vợ ấy còn phải nuôi cả ông ''quan tại gia'' nữa. Mà nuôi đủ được đàn con đông đã khó. Đủ được cho một đức lang quân như ông Tú lại càng khó hơn. Bởi không chỉ phải ăn no, uống say, mặc lành, mặc ấm mà còn phải diện đẹp, phải tiêu pha, phải đầy đủ cho cả những thú phong tình. Không có cái nghề buôn thúng bán bưng quanh năm dãi dầu với mom sông mặt nước như thế liệu có thể nuôi đủ? Đó là truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Bằng tình cảm của mình đối với vợ, nhà thơ đã vẽ lên chân dung một bà Tú đảm đang, hi sinh vì chồng con, chấp nhận vất vả, gian truân trong cuộc sống để đảm trách vai trò trụ cột gia đình.

          Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể bà Tú với “năm con, một chồng” vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa). Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ’” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.